Nghề làm khèn của người Mông – Linh hồn của văn hóa miền núi

Nghề làm khèn của người Mông - Ảnh sưu tầm

Nghề làm khèn của người Mông không chỉ là một nghề thủ công truyền thống mà còn là biểu tượng sống động của bản sắc văn hóa dân tộc. Những chiếc khèn Mông với âm thanh đặc trưng vang vọng giữa núi rừng Tây Bắc đã gắn liền với đời sống, phong tục và tâm hồn của người dân nơi đây.

Mỗi chiếc khèn là một tác phẩm nghệ thuật được chế tác tỉ mỉ, mang theo hơi thở của núi rừng và tình cảm sâu nặng của người làm ra nó. Và hôm nay trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu và khám phá chi tiết về nghề làm dụng cụ truyền thống này.

Khèn Mông – Nguồn gốc và ý nghĩa văn hóa

Khèn Mông là loại nhạc cụ truyền thống độc đáo của dân tộc Mông, gồm một bầu gỗ và 6 ống trúc xếp cạnh nhau. Trong truyền thuyết của người Mông, khèn ra đời từ câu chuyện về sáu anh em tài hoa: mỗi người thổi sáo rất hay nhưng khi tấu riêng lẻ thì âm thanh rời rạc. Họ đã cùng nghĩ cách ghép các ống sáo lại với nhau thành một nhạc cụ có sáu ống, tạo nên âm thanh hòa quyện nhiều tầng vừa vi vút như gió rừng, véo von như tiếng chim, rì rào như suối chảy. Chiếc khèn độc đáo ấy từ đó gắn liền với đời sống người Mông và trở thành báu vật truyền đời.

Với đồng bào Mông, tiếng khèn chính là tiếng lòng, là hơi thở của cuộc sống . Cây khèn không chỉ là nhạc cụ giải trí mà còn mang giá trị tâm linh thiêng liêng. Khi tiếng khèn cất lên, nó như sợi dây vô hình kết nối con người với tổ tiên, kết nối cộng đồng và gửi gắm tâm tư tình cảm. Bởi vậy, nghệ thuật thổi và múa khèn từ lâu đã trở thành biểu trưng văn hóa của người Mông. Năm 2023, nghệ thuật khèn Mông ở Yên Bái được đưa vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia, khẳng định giá trị quý báu của khèn trong kho tàng văn hóa dân tộc.

Nguồn gốc và ý nghĩa của nghề làm khèn của người Mông Ảnh sưu tầm

Nguồn gốc và ý nghĩa của nghề làm khèn của người Mông Ảnh sưu tầm

Quy trình chế tác khèn Mông: Nguyên liệu và kỹ thuật

Nghề làm khèn đòi hỏi người thợ phải kiên nhẫn, khéo léo và hiểu biết về âm nhạc. Nguyên liệu chính làm khèn rất gần gũi với núi rừng Tây Bắc. Phần bầu khèn (thân khèn) thường được làm từ gỗ thông đá – loại gỗ nhẹ, thớ thẳng và không bị mối mọt. Người thợ chọn cây gỗ tốt, chặt khúc khoảng 80cm, bổ đôi và khoét rỗng ruột theo chiều dọc để tạo khoang hơi, rồi ép hai nửa lại như cũ và buộc chặt. Khúc gỗ sau đó được đem phơi hoặc gác bếp cho khô tự nhiên trong nhiều tháng. Khi gỗ đã đủ độ khô, nghệ nhân mới đục đẽo tạo hình bầu khèn, khoan các lỗ trên thân để cắm ống khèn.

Ống khèn được làm từ cây trúc hoặc tre rừng già trên 10 năm tuổi. Tre phải thẳng đẹp, chặt về bổ, phơi kỹ nơi râm mát hoặc gác bếp ít nhất một năm để tránh nứt vỡ. Mỗi cây khèn Mông có 6 ống trúc dài ngắn khác nhau (từ khoảng nửa mét đến gần một mét) cắm xuyên qua thân gỗ. Trước khi lắp, người thợ sẽ dùi lỗ, uốn ống và kiểm tra âm thanh từng ống trúc sao cho mỗi ống phát ra đúng cao độ mong muốn.

Ống khèn được làm từ cây trúc hoặc tre rừng già trên 10 năm - Ảnh sưu tầm

Ống khèn được làm từ cây trúc hoặc tre rừng già trên 10 năm – Ảnh sưu tầm

Lưỡi khèn (lam khèn) bằng đồng là “trái tim” tạo nên tiếng khèn. Mỗi ống khèn được gắn một lá đồng mỏng đã được gò và mài kỹ, riêng ống lớn nhất (ngắn nhất) thường gắn hai lá để âm thanh vang hơn. Người thợ dùng dao cực bén khoét lỗ nhỏ trên ống trúc và cố định lá đồng vào đó để làm dăm khèn phát ra âm. Công đoạn này rất quan trọng, đòi hỏi sự chính xác cao để tiếng khèn khi thổi bay bổng và vang vọng.

Lưỡi khèn (lam khèn) được làm bằng đồng là “trái tim” tạo nên tiếng khèn - Ảnh sưu tầm

Lưỡi khèn (lam khèn) được làm bằng đồng là “trái tim” tạo nên tiếng khèn – Ảnh sưu tầm

Sau khi hoàn thiện phần âm, nghệ nhân sẽ trang trí và gia cố khèn bằng dây đai làm từ vỏ cây rừng. Thông thường vỏ cây đào rừng được chọn vì độ dẻo dai bền chắc . Vỏ cây được phơi khô, ngâm nước cho mềm rồi chẻ thành sợi buộc quanh thân khèn, vừa giữ chặt khèn tránh nứt vỡ, vừa tạo hoa văn đẹp mắt. Tất cả các công đoạn đều làm thủ công, tỉ mỉ. Một nghệ nhân giỏi cần khoảng 2 – 3 ngày để hoàn thành một chiếc khèn đạt chuẩn âm sắc. Chiếc khèn thành phẩm chính là một tác phẩm nghệ thuật kết tinh từ đôi bàn tay tài hoa và tình yêu âm nhạc dân tộc.

Vai trò của khèn Mông trong đời sống

Trong đời sống người Mông, cây khèn giữ vai trò đặc biệt không gì có thể thay thế. Tiếng khèn xuất hiện trong hầu hết các sự kiện quan trọng, từ sinh hoạt thường nhật đến lễ nghi tín ngưỡng. Đối với nam thanh niên Mông, khèn là “bạn đường” thân thiết, đồng hành cùng họ khi đi nương rẫy hay xuống chợ phiên. Trên đường núi vắng hay giữa phiên chợ đông, chàng trai Mông mang bên mình cây khèn, thổi lên vài giai điệu để bộc lộ nỗi lòng và ước mong bình dị của mình.

Âm thanh khi vui thì rộn rã, mời gọi – người Mông dùng tiếng khèn réo rắt để gọi bạn bè đi chơi xuân, xuống chợ. Khi buồn lại trầm lắng, thủ thỉ – tiếng khèn khi ấy thay cho lời tự sự, an ủi lòng người.

Đặc biệt, tiếng khèn là nhịp cầu của tình yêu đôi lứa. Từ lâu, đồng bào Mông đã ví tiếng khèn như giai điệu hò hẹn gửi lời yêu. Những chàng trai dùng tiếng khèn thay lời tỏ tình, gọi bạn tình trong những đêm trăng hay phiên chợ tình nổi tiếng . Giai điệu khèn dìu dặt, tha thiết có thể làm say lòng cô gái, giúp họ kết đôi se duyên . Không ít đôi trai gái người Mông nên vợ thành chồng nhờ tiếng khèn se sợi tơ hồng kết nối.

Cây khèn giữ vai trò đặc biệt trong đời sống của người Mông - Ảnh sưu tầm

Cây khèn giữ vai trò đặc biệt trong đời sống của người Mông – Ảnh sưu tầm

Trong các lễ hội cộng đồng, khèn Mông càng không thể vắng mặt. Tiếng khèn rộn rã mở đầu những điệu múa khèn tập thể, nơi cộng đồng quây quần trong ngày xuân mới . Người Mông quan niệm tiếng khèn vang lên là để mời gọi thần linh và tổ tiên về chung vui, ban phước lành cho bản làng . Bởi thế trong lễ hội truyền thống như Gầu Tào (lễ hội mừng năm mới của người Mông), luôn có phần thi thổi khèn, múa khèn tưng bừng để cầu mùa màng bội thu và cuộc sống no ấm.

Không chỉ gắn với niềm vui, cây khèn còn đồng hành với đồng bào Mông trong những giờ phút tiễn biệtTang lễ của người Mông không thể thiếu tiếng khèn đưa tiễn linh hồn người quá cố. Đồng bào quan niệm tiếng khèn là công cụ giao tiếp giữa người sống và người chết, dẫn dắt linh hồn người mất về với tổ tiên.

Trong đám tang, “thầy khèn” sẽ thổi những bài khèn ai oán, từng giai điệu như lời tiễn đưa và an ủi vong linh: “Đừng sợ nhé! Tiếng khèn sẽ đưa anh về với tổ tiên…” . Tiếng khèn trầm buồn tiếp tục ngân vang trong suốt tang lễ mỗi khi có người đến viếng, như lời gọi hương hồn người đã khuất về nhận tấm lòng tiễn biệt của con cháu . Có thể nói, từ lúc sinh ra, trưởng thành cho đến khi về cõi vĩnh hằng, tiếng khèn luôn song hành cùng người Mông, lưu giữ trọn vẹn những buồn vui, yêu thương và tín ngưỡng tâm linh của họ.

Những địa phương gìn giữ nghề làm khèn truyền thống

Trải qua bao biến cố lịch sử, nghề chế tác khèn Mông vẫn được đồng bào gìn giữ ở nhiều địa phương vùng cao. Tại Hà Giang – mảnh đất địa đầu Tổ quốc, đồng bào Mông trên cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc vẫn nổi tiếng với tài làm khèn. Nhiều nghệ nhân ở Yên Minh, Quản Bạ… đã truyền nghề cho con cháu, giúp tiếng khèn Mông tiếp tục ngân vang nơi núi rừng Hà Giang.

Chẳng hạn, vợ chồng nghệ nhân Mua Mí Mình và Thào Thị Chợ ở Yên Minh hàng năm làm ra hàng trăm chiếc khèn cung cấp khắp vùng, đồng thời mở lớp dạy nghề cho thanh niên địa phương ngay tại quê nhà. Hà Giang còn định kỳ tổ chức Lễ hội khèn Mông quy mô toàn quốc, mời nghệ nhân khèn từ khắp các tỉnh về trình diễn, thu hút đông đảo du khách đến thưởng thức âm nhạc dân tộc.

Tại Lào Cai, cộng đồng người Mông ở Sa Pa, Bắc Hà, Si Ma Cai… cũng gìn giữ cây khèn như báu vật. Nhiều gia đình ở Bắc Hà vẫn coi khèn là vật bất ly thân, con em đi đâu cũng mang theo khèn bên mình. Tại xã Bản Phố (Bắc Hà), nghệ nhân lão thành Lý Seo Hồ không chỉ chế tác khèn giỏi mà còn kiên trì truyền dạy các điệu múa khèn truyền thống cho thế hệ trẻ.

Nhờ có những người giữ lửa như ông, thanh niên trong vùng vẫn say mê tiếng khèn, lập câu lạc bộ múa khèn và biểu diễn phục vụ du lịch, khiến vùng cao nguyên trắng Bắc Hà luôn rộn rã tiếng khèn mỗi độ xuân về. Ở chợ tình Sa Pa (Lào Cai), hình ảnh những chàng trai thổi khèn, múa khèn gọi bạn giữa đêm hội đã trở thành nét hấp dẫn du khách, minh chứng cho sức sống bền bỉ của văn hóa khèn Mông.

Hầu như đồng bào người Mông các tỉnh ở vùng Tây Bắc đều giữ giùn được nghề làm khèn truyền thống này - Ảnh sưu tầm

Hầu như đồng bào người Mông các tỉnh ở vùng Tây Bắc đều giữ giùn được nghề làm khèn truyền thống này – Ảnh sưu tầm

Lai Châu cũng là vùng đất nổi tiếng với nhiều thầy khèn tài hoa. Tại huyện Sìn Hồ, nghệ nhân Mùa A Thào được ví như “cây đại thụ” trong rừng văn hóa Mông. Ông làm khèn giỏi, thổi khèn hay và đã đào tạo nên cả một thế hệ học trò kế cận xuất sắc . Nhờ những lớp truyền dạy mà Sở Văn hóa tỉnh mở, do chính nghệ nhân Mùa A Thào đứng lớp, nhiều thanh niên Lai Châu nay đã trở thành tay khèn điêu luyện, thậm chí tự chế tác được những cây khèn có giá trị nghệ thuật cao.

Không những thế, người Mông Lai Châu còn sử dụng tiếng khèn như phương tiện gắn kết cộng đồng: già làng, trưởng bản mang khèn đi từng bản làng thổi, lồng ghép với tuyên truyền kiến thức, vận động bà con bỏ hủ tục và xây dựng đời sống mới . Điều này cho thấy cây khèn đã ăn sâu vào tiềm thức văn hóa và trở thành cầu nối gắn bó người dân trong mọi mặt cuộc sống.

Bên cạnh đó, các tỉnh như Yên Bái, Sơn La, Điện Biên – nơi có đông đồng bào Mông sinh sống – cũng tích cực bảo tồn nghề làm khèn. Yên Bái gần đây rất chú trọng phát huy di sản khèn Mông: tại các huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu…, nhiều gia đình vẫn lưu truyền bí quyết chế tác khèn và dạy con cháu thổi khèn điêu luyện.

Cuối năm 2023, Yên Bái còn tổ chức Festival Khèn Mông kết hợp Lễ hội hoa Tớ Dày để tôn vinh văn hóa Mông, quy tụ hàng trăm nghệ nhân khèn biểu diễn phục vụ du khách. Những sự kiện như vậy vừa góp phần quảng bá du lịch, vừa tạo động lực cho cộng đồng tiếp tục gìn giữ tiếng khèn vang vọng nơi núi rừng.

Thách thức và nỗ lực bảo tồn

Trong dòng chảy hiện đại hóa, nghề làm khèn Mông đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là nguy cơ mai một do thế hệ trẻ ít mặn mà với nhạc cụ truyền thống. Nhiều nghệ nhân cao tuổi lo lắng rằng lớp con cháu nay thích nghe nhạc hiện đại hơn là tiếng khèn, số người biết chế tác khèn hoặc thổi khèn đang dần ít đi. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu tự nhiên để làm khèn cũng ngày càng khan hiếm.

Loại gỗ thông đá tốt để làm bầu khèn hiện chỉ còn rất ít ở rừng núi Hà Giang , tre trúc lâu năm cũng khó tìm do rừng bị thu hẹp. Việc chế tác thủ công tỉ mỉ lại cho thu nhập không cao, khiến một số người trẻ không muốn theo nghề truyền thống của cha ông.

Trước thực trạng đó, nhiều nỗ lực bảo tồn khèn Mông đã được triển khai từ cộng đồng tới chính quyền. Tại các bản làng, các nghệ nhân tâm huyết vẫn lặng lẽ “truyền lửa” cho con cháu. Họ mở lớp dạy làm khèn, dạy thổi khèn miễn phí, kèm cặp từng động tác múa, từng ngón bấm cho lũ trẻ với hy vọng giữ được hồn cốt dân tộc.

Chính quyền địa phương cũng chung tay tiếp sức: Sở Văn hóa các tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên… mở lớp truyền dạy kỹ thuật khèn ngay tại vùng cao, mời nghệ nhân có uy tín hướng dẫn theo phương pháp “cầm tay chỉ việc” . Những lớp học như ở Mèo Vạc (Hà Giang) hay Sìn Hồ (Lai Châu) đã giúp phát hiện và bồi dưỡng nhiều tài năng trẻ, tạo nên một thế hệ nghệ nhân khèn mới kế cận đầy triển vọng .

Mặt khác, Nhà nước cũng ghi nhận công lao nghệ nhân và giá trị di sản khèn Mông. Nhiều nghệ nhân xuất sắc đã được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân. Việc vinh danh khèn Mông là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Yên Bái, Lai Châu… đã khích lệ cộng đồng nâng cao ý thức tự hào và giữ gìn di sản.

Các hoạt động du lịch văn hóa gắn với khèn Mông ngày càng phát triển: lễ hội khèn, chợ tình, chương trình biểu diễn văn nghệ dân tộc cho du khách… không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn đưa tiếng khèn bay xa, đến với bạn bè quốc tế. Những chàng trai cô gái Mông hôm nay tự tin khoác lên mình bộ váy áo rực rỡ, mang theo cây khèn yêu thích để biểu diễn trên sân khấu lớn nhỏ, chứng minh rằng di sản cha ông vẫn sống động trong nhịp sống hiện đại.

Tìm hiểu thêm về văn hóa khèn Mông

  • Tên gọi: Trong tiếng Mông, khèn còn được gọi là “chúa kềnh”, người Mông Yên Bái gọi tiếng khèn là “krềnh” . Dù tên gọi khác nhau nhưng tất cả đều trân quý nhạc cụ này như “vua” của các loại nhạc cụ dân tộc.
  • Cấu tạo độc đáo: Khèn Mông thuộc loại khí nhạc đa thanh. Khi thổi, 6 ống trúc phát ra 6 âm thanh ở các cao độ khác nhau hòa quyện. Ống lớn nhất (cũng là ngắn nhất) giữ vai trò giữ nhịp, các ống còn lại tạo nên giai điệu trầm bổng, tạo thành bản hòa âm nhiều lớp mê hoặc lòng người .
  • Phân loại khèn: Người Mông có nhiều loại khèn khác nhau. Có loại khèn lớn âm trầm (còn gọi là khèn đại) chuyên dùng trong đám tang, tiếng vang uy nghiêm; loại khèn vừa (khèn trung) phổ biến trong sinh hoạt thường ngày; và khèn nhỏ âm cao thích hợp cho những điệu múa vui tươi trong ngày hội . Mỗi loại khèn phục vụ một mục đích, nhưng đều mang đậm âm sắc Mông.
  • Khèn Mông vươn ra thế giới: Ngày nay, tiếng khèn không chỉ vang lên ở bản làng vùng cao mà còn được giới thiệu ra quốc tế. Những nghệ sĩ người Mông đã mang cây khèn biểu diễn ở các lễ hội văn hóa quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Mông độc đáo đến bạn bè năm châu. Du khách nước ngoài đến Việt Nam, đặc biệt là vùng Tây Bắc, thường thích thú trải nghiệm tập thổi khèn và học múa khèn cùng đồng bào như một cách hiểu thêm về văn hóa bản địa.

>>>Có thể bạn sẽ quan tâm:

Những nghi lễ đặc sắc của người H’Mông.

Cách làm mèn mén – món ăn truyền thống của đồng bào Mông.

Trong tiếng Mông, khèn còn được gọi là “chúa kềnh”, người Mông Yên Bái gọi tiếng khèn là “krềnh” - Ảnh sưu tầm

Trong tiếng Mông, khèn còn được gọi là “chúa kềnh”, người Mông Yên Bái gọi tiếng khèn là “krềnh” – Ảnh sưu tầm

Tiếng khèn Mông đã, đang và sẽ mãi ngân vang giữa đại ngàn, là sợi dây gắn kết các thế hệ người Mông với cội nguồn văn hóa. Dù cuộc sống hiện đại đổi thay, đồng bào Mông vẫn tự hào giữ gìn cây khèn như giữ phần hồn dân tộc mình. Chính tiếng khèn chứa chan tình cảm và bản sắc ấy sẽ tiếp tục truyền cảm hứng, chạm đến trái tim của bao người yêu văn hóa, để rồi ai một lần nghe khèn Mông vang vọng núi rừng cũng không khỏi vấn vương, say đắm…

Đặc sản Tây Bắc hy vọng với những chia sẻ này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nghề làm khèn truyền thống này của người Mông vùng Tây Bắc.

Chia sẻ:

Sản phẩm mới

Bài viết mới

Món ăn giải ngấy sau Tết
Món ăn giải ngấy sau Tết Nguyên Đán hiệu quả nhất
Ẩm thực Tây Bắc và Đông Bắc
Ẩm thực Tây Bắc khác gì so với Đông Bắc?
Ẩm thực Tây Bắc khác gì so với đặc sản miền xuôi
Ẩm thực Tây Bắc khác gì so với đặc sản miền xuôi?
Ẩm thực Tây Bắc xưa và nay
Ẩm thực Tây Bắc xưa và nay – Điều gì đã thay đổi?
Vì sao người Tây Bắc thích đồ nướng và gác bếp
Vì sao người Tây Bắc thích đồ nướng và gác bếp?
Chim rừng Tây Bắc và miền xuôi
Chim rừng Tây Bắc có gì khác so với miền xuôi?

Danh mục